Thánh Anrê Tông Đồ, môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu, người đã đến xem thấy Chúa và đã cảm nghiệm được Chúa ngay từ giây phút ban đầu. Ngài đã say mê Chúa và đã chọn Chúa làm lý tưởng đời mình. Đúng là Ngài đã như vớ được kho tàng quá lớn, đã "trúng" Chúa như trúng độc đắc, nên tất cả những giá trị khác đã trở thành rác rưởi như tâm tình của Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Philipphê (3:8).
Giáo Hội Việt Nam có thày giảng Anrê Phú Yên người chứng thứ nhất, thì cũng hãnh diện có thánh Anrê Dũng Lạc đứng đầu sổ đại diện cho Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, làm chứng đã nếm được Chúa ngon ngọt chừng nào và chỉ lối cho chúng ta.
Tên thật Ngài là Trần An Dũng, sinh khoảng năm 1795 tại Bắc Ninh trong một gia đình ngoại giáo. Năm 12 tuổi cậu Dũng được về Hà Nội học đạo, được rửa tội và sau đó đi tu vào chủng viện. Ngài rất thông minh và có trí nhớ lạ lùng. Sau 8 năm theo học tại chủng viện Kẻ Vĩnh, Ngài được làm Thầy Giảng, và 10 năm sau được thụ phong linh mục ngày 15.3.1823 lúc 28 tuổi.
Linh mục Trần An Dũng sống đời mục tử thật thánh thiện và gương mẫu. Ngài rất thương yêu giáo dân và giảng đạo sốt sắng, nên ai cũng quí mến. Đời sống nội tâm của Ngài thật sâu xa, ăn mặc đơn sơ, giữ chay các ngày thứ tư và thứ sáu, và rất thương người nghèo khó.
Năm 1835 Cha Dũng bị bắt lần thứ nhất, nhưng giáo dân thương mến đưa tiền chuộc nên cha được tha về. Cha phải đổi tên là Lạc để dễ ẩn trốn. Bốn năm sau, vào ngày 10.11.1839 Cha Lạc bị bắt lần nữa trên đường đi Kẻ Sen. Giáo dân lại chạy tiền chuộc Cha về để có người lo phần thiêng liêng cho họ. Nhưng trên đường về, Ngài lại bị chận bắt lần nữa. Ngài nhận mình là đạo trưởng (linh mục), nên bị bắt trói ngay và phải đeo gông vào cổ. Lần này giáo dân cũng xin chuộc Cha nữa:
- "Thưa Cha, Cha chịu chết thì một mình Cha lên thiên đàng, mà nếu Cha còn ở lại thì giáo dân chúng con được nhờ, vậy xin Cha nghĩ lại."
Nhưng Cha Dũng Lạc đã nói với họ:
- "Tôi bị bắt lần này là lần thứ ba, thì đó là ý Chúa rồi. Anh em đừng mất tiền chuộc tôi làm gì."
Quan huyện rất thương mến Cha và muốn cứu Cha:
- "Thầy đạo, Thầy biết nhiều chữ nghĩa và còn trẻ nữa thì tại sao lại muốn chết, có phải là uổng không ? Hãy tin tôi đi, nhắm mắt lại và bước qua thánh giá, hoặc là chỉ giả vờ đi vòng quanh, nếu Thầy muốn thì để cho lính của tôi khiêng Thầy qua, tôi sẽ làm án tha ngay."
Cha Dũng Lạc giõng giạc trả lời:
- "Tôi không bao giờ làm như thế. Hãy khép án tôi phải cắt trăm mảnh thì hơn."
Không lay chuyển được cha, quan huyện làm tờ trình vua là bắt được cha ở ngoài ruộng để không ai bị liên lụy vì tội chứa chấp đạo trưởng. Để tỏ lòng biết ơn, cha nói người nhà mang quà biếu quan huyện.
Giáo dân thương mến đến thăm viếng khóc lóc thì cha khuyên bảo:
- "Tôi biết ơn anh chị em lắm. Xin hãy về giữ đạo như tôi còn ở giữa anh chị em. Đừng than khóc nữa!"
Trong tù, cha viết thư cho Đức Cha tỏ lòng biết ơn Đức Cha và các vị thừa sai. Nhờ các ngài mà cha được đức tin và được thương yêu lo lắng. Và cha cam kết với Đức Cha một lòng trung kiên "vững mạnh như núi Thái".
Bị tra khảo ba lần, cha Lạc vẫn một lòng cương quyết, nên quan đã làm án xử chém đầu ngày 21.12.1839 tại pháp trường Ô Cầu Giấy.
Bài học Chứng Nhân
* Thánh Anrê Dũng Lạc đã làm chứng nhân Tin Mừng gì ?
Thánh Anrê Dũng Lạc đã nhảy mừng như Đức Mẹ: "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa và thần trí tôi hớn hở trong Thiên Chúa là Đấng Cứu chuộc tôi. Chúa đã làm cho tôi muôn việc kỳ diệu. Từ nay muôn đời sẽ khen tôi có phúc..."
Vì nhận ra tình Chúa ngon ngọt chừng nào, thấy được Chúa luôn hiện diện qua mọi biến cố dù vui dù buồn, dù mùa đông hay mùa xuân, dù ở ngoài hay trong tù, thì đối với người tin tưởng Chúa mọi sự sẽ ăn khớp với nhau tốt đẹp, nên có lần cha đã viết thư từ nhà tù cho người bạn là cha Thực để tâm sự:
Lạc rầy đã rõ chốn quân quan.
Bút chép thơ này gửi thở than,
Lòng nhớ bạn non còn vất vả,
Dạ thương khách chạy chưa yên hàn.
Đông qua tiết lại thời xuân tới,
Khổ tạm mai sau hưởng phúc an.
Làm kẻ anh hùng chi quản khó,
Nguyện xin cùng gặp chốn thanh nhàn.
Như Mẹ Maria, Thánh Anrê Dũng Lạc luôn nhận ra mình thật có phúc. Ngài nhận ra ơn Chúa trong cuộc sống mục vụ. Ngài biết ơn giáo dân, biết ơn các thừa sai, biết ơn ngay cả quan huyện đã đối xử tử tế với ngài. Biết ơn Chúa, biết ơn người và biết ơn đời, là bí quyết sống hạnh phúc.
Dung Lac An Tran, Andrew (Anrê Trần An Dũng (Lạc)), priest; born in 1795 in Bắc Ninh, Tonkin; died on 21 Dec. 1839, Cầu Giấy, Tonkin. When Dung Anh Tran was 12, his family moved to Hà Nội to find work. Although his parents were pagan, they allowed their son to receive instruction from a lay catechist so that he might benefit from the education generally denied the poor. He was baptized Andrew at Vinh-Tri. He studied Chinese and Latin, served as a catechist for ten years, and then was ordained to the priesthood in 1823. He was a tireless preacher—both by word and example—in several parishes until his arrest in 1835 as a Christian. His parishioners gathered the money needed to purchase his release. Thereafter, he changed his name from Dung to Lac in order to disguise his identity and went to another area to continue his ministry. On 10 November 1839, he was again arrested with another Vietnamese priest, Peter Thi. Both were freed once ransom was paid on their behalf, but they were soon arrested again and taken to Hà Nội, where priests of the MEP were singled out for especially harsh treatment and tortures. They were beheaded in 1839, beatified in 1900, and canonized to sainthood in 1988.
Đầu Trang |